Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia

Cơ chế tài chính mới tạo đột phá cho công nghệ chiến lược

(Chinhphu.vn) – Cơ chế tài chính mới dành cho nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược cho phép thù lao Tổng công trình sư tối đa 300 triệu đồng/tháng, đồng thời quản lý kinh phí theo gói công việc, mốc đánh giá và trao quyền tự chủ cao hơn cho tổ chức thực hiện.

Cơ chế tài chính mới tạo đột phá cho công nghệ chiến lược- Ảnh 1.

Cơ chế tài chính mới cho công nghệ chiến lược: Đầu tư cho con người, trao quyền theo kết quả, chấp nhận rủi ro để tạo đột phá = Ảnh: Bộ KH&CN

Bộ trưởng Bộ KH&CN vừa ký ban hành Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.

Tạo cơ chế tài chính phù hợp với công nghệ chiến lược

Theo PGS.TS. Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Cơ quan điều hành Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED – Bộ KH&CN), các nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược có những yêu cầu khác biệt so với nhiệm vụ khoa học và công nghệ thông thường.

Đây là những nhiệm vụ hướng tới làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền tảng, tạo ra sản phẩm công nghệ chiến lược, có mức độ phức tạp và rủi ro cao, đòi hỏi khả năng tích hợp hệ thống, huy động nhân lực trình độ cao và đưa kết quả nghiên cứu đến sản xuất, chuyển giao, thương mại hóa.

Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN là bước cụ thể hóa các chủ trương lớn về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và công nghệ chiến lược, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Điểm xuyên suốt của cơ chế mới trong Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN cụ thể hóa chủ trương bằng những cơ chế tài chính có thể triển khai ngay trong thực tiễn: trả thù lao theo vị trí công việc; thuê chuyên gia theo cơ chế thị trường; quản lý kinh phí theo gói công việc và mốc đánh giá; khoán chi theo kết quả; tăng quyền tự chủ; huy động nguồn lực ngoài ngân sách; bố trí kinh phí dự phòng; triển khai nhiều phương án nghiên cứu độc lập và xử lý tài chính đối với rủi ro được chấp nhận.

Cơ chế tài chính mới tạo đột phá cho công nghệ chiến lược- Ảnh 2.

PGS.TS. Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Cơ quan điều hành Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED – Bộ KH&CN) – Ảnh: chinhphu.vn/TG

Thù lao tối đa 300 triệu đồng/tháng cho Tổng công trình sư

Một trong những nội dung đáng chú ý của cơ chế mới là phương thức chi trả thù lao cho nhân lực thực hiện nhiệm vụ công nghệ chiến lược.

Thay vì chủ yếu dựa trên chức danh hành chính hoặc ngày công, thù lao được xác định theo vị trí công việc, yêu cầu chuyên môn, trách nhiệm, thời gian tham gia và sản phẩm đầu ra. Tổ chức chủ trì được chủ động xác định vị trí công việc phù hợp với từng gói công việc và yêu cầu thực tế của nhiệm vụ.

Trong quá trình xây dựng chính sách, Bộ KH&CN nghiên cứu, tham chiếu mô hình nhân lực nghiên cứu của Cơ quan Khoa học, Công nghệ và Nghiên cứu Singapore (A*STAR), đối sánh các vị trí có tính chất và mức độ trách nhiệm tương ứng. Mức đề xuất được xây dựng trên cơ sở tham chiếu thu nhập tại Singapore, quy đổi thu nhập sau thuế và điều chỉnh theo sức mua tương đương (PPP), thay vì quy đổi cơ học theo tỷ giá danh nghĩa.

Theo phương pháp này, mức thù lao được đề xuất theo hướng phân tầng tương ứng với trách nhiệm và mức độ đóng góp. Tổng công trình sư tối đa 300 triệu đồng/tháng; Chủ nhiệm nhiệm vụ tối đa 150 triệu đồng/tháng; các thành viên chính tối đa 120 triệu đồng/tháng hoặc 100 triệu đồng/tháng tùy vị trí; thành viên trực tiếp thực hiện từ 70-90 triệu đồng/tháng; kỹ thuật viên, nhân viên hỗ trợ chuyên môn tối đa 45 triệu đồng/tháng.

Đây là mức trần để lập, thẩm định và phê duyệt dự toán. Mức thù lao thực tế của từng cá nhân được xác định theo vị trí công việc, số tháng và tỉ lệ thời gian tham gia nhiệm vụ.

Cách tiếp cận này thể hiện quan điểm đầu tư cho công nghệ chiến lược trước hết phải đầu tư cho con người có khả năng tạo ra và làm chủ công nghệ. Chính sách đãi ngộ được đặt trong mối tương quan với trách nhiệm, năng lực và giá trị mà nhân lực chất lượng cao tạo ra.

Thuê chuyên gia trong và ngoài nước theo cơ chế thị trường

Đối với những lĩnh vực Việt Nam chưa có đủ chuyên gia hoặc cần tiếp cận nhanh tri thức và công nghệ quốc tế, Thông tư cho phép thuê chuyên gia trong nước và ngoài nước theo cơ chế thỏa thuận.

Mức thuê được xác định căn cứ yêu cầu chuyên môn, phạm vi và nội dung công việc, trình độ, năng lực, kinh nghiệm, thời gian tham gia, mặt bằng giá thị trường và thông lệ quốc tế.

Mức thuê chuyên gia theo tháng thông thường tối đa bằng mức thù lao của Chủ nhiệm nhiệm vụ. Trường hợp cần thiết phải thuê chuyên gia với mức cao hơn, tổ chức chủ trì phải thuyết minh sự cần thiết, căn cứ xác định mức thuê, khả năng huy động chuyên gia, hiệu quả dự kiến và khả năng cân đối kinh phí. Mức thuê tối đa có thể bằng mức thù lao của Tổng công trình sư, tức 300 triệu đồng/tháng.

Cơ chế này hướng tới tháo gỡ rào cản về định mức tài chính trong việc huy động những chuyên gia phù hợp với các bài toán công nghệ chiến lược.

Quản lý kinh phí theo gói công việc, mốc đánh giá

Một điểm mới có tính nền tảng là phương thức lập dự toán và quản lý kinh phí theo gói công việc (Work Package) và mốc đánh giá (Milestone).

Mỗi gói công việc xác định rõ mục tiêu, phạm vi, sản phẩm đầu ra, kinh phí, tổ chức hoặc cá nhân chịu trách nhiệm và thời gian thực hiện. Dự toán toàn nhiệm vụ được hình thành từ các gói công việc và tổng hợp theo các mốc đánh giá.

Cách làm này gắn trực tiếp nguồn lực với tiến độ và kết quả công nghệ, qua đó xác định rõ nguồn lực được sử dụng để làm gì, phải tạo ra sản phẩm gì và tại thời điểm nào kết quả phải được kiểm chứng.

Kết quả thực hiện tại từng mốc đánh giá là căn cứ để thanh toán, quyết toán kinh phí và quyết định cấp kinh phí cho giai đoạn tiếp theo. Mốc đánh giá cũng là điểm kiểm soát để xem xét tiếp tục, điều chỉnh hoặc dừng sớm nhiệm vụ theo kết quả thực tế, theo cách tiếp cận “Go/No-Go”.

Như vậy, khoán chi theo mốc không chỉ nhằm đơn giản hóa thủ tục thanh toán mà còn tạo công cụ quản trị nhiệm vụ theo kết quả, vừa trao quyền cho tổ chức nghiên cứu, vừa duy trì các điểm kiểm soát để bảo đảm hiệu quả sử dụng ngân sách.

Cho phép nhiều phương án cùng giải một bài toán công nghệ

Do nghiên cứu công nghệ mới luôn có tính bất định, Thông tư cho phép đối với những bài toán có nhiều hướng công nghệ khả thi, có thể triển khai nhiều phương án nghiên cứu độc lập cùng hướng tới một mục tiêu, yêu cầu và chỉ tiêu đánh giá.

Mỗi phương án được lập dự toán, giao kinh phí, ký hợp đồng, thanh toán và quyết toán riêng; được đánh giá, sàng lọc theo kết quả tại từng mốc. Phương án không còn phù hợp có thể được chấm dứt; phần kinh phí tương ứng với các mốc đã hoàn thành được thanh toán, quyết toán theo quy định và không tiếp tục bố trí ngân sách cho các mốc chưa thực hiện.

Cơ chế này cho phép thử nghiệm nhiều con đường công nghệ nhưng không dàn trải nguồn lực đến cuối nhiệm vụ, qua đó tăng khả năng lựa chọn giải pháp phù hợp trên cơ sở kết quả thực tế.

Dự phòng kinh phí, ứng trước và huy động nguồn lực xã hội

Đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, kinh phí dự phòng được lập để xử lý các phát sinh trong quá trình thực hiện. Mức dự phòng do tổ chức chủ trì đề xuất, được cơ quan quản lý xem xét, quyết định nhưng không vượt quá 10% tổng dự toán kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ.

Thông tư cũng cho phép tổ chức chủ trì sử dụng nguồn tài chính hợp pháp của mình hoặc các nguồn vốn hợp pháp khác để ứng trước kinh phí thực hiện những nội dung cấp bách trước khi ngân sách nhà nước được cấp. Khoản kinh phí ứng trước được tổng hợp để thanh toán, quyết toán theo quy định.

Cùng với đó, cơ chế huy động kinh phí đối ứng của doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân được mở rộng. Kinh phí đối ứng có thể là tiền, máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ, phòng thí nghiệm, cơ sở thử nghiệm, hạ tầng kỹ thuật, quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng công nghệ, phần mềm, tài sản vô hình, chi phí nhân lực trực tiếp và các nguồn lực hợp pháp khác.

Qua đó, Nhà nước không chỉ cấp kinh phí cho một nhiệm vụ nghiên cứu mà hướng tới mô hình Nhà nước và xã hội cùng huy động nguồn lực để giải quyết các bài toán công nghệ chiến lược, tăng sự tham gia của doanh nghiệp từ nghiên cứu, thử nghiệm đến tiếp nhận, chuyển giao và thương mại hóa kết quả.

Chấp nhận rủi ro nhưng không buông lỏng quản lý

Một điểm đáng chú ý khác là cơ chế xử lý rủi ro được chấp nhận trong nghiên cứu và phát triển công nghệ.

Theo Thông tư, trường hợp nhiệm vụ thuộc trường hợp rủi ro được chấp nhận theo quy định pháp luật, tổ chức chủ trì không phải hoàn trả phần kinh phí ngân sách nhà nước đã sử dụng đúng mục tiêu, đúng nội dung, đúng phạm vi và đúng quy định.

Cơ chế này tạo thêm không gian để nhà khoa học, doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu mạnh dạn theo đuổi những hướng công nghệ mới, khó và có khả năng tạo đột phá.

Tuy nhiên, cơ chế này vẫn gắn với trách nhiệm giải trình và nguyên tắc quản lý ngân sách. Phần kinh phí sử dụng sai mục đích hoặc không đúng quy định phải hoàn trả; trường hợp gian lận hoặc cố ý vi phạm được xử lý theo quy định.

Cùng với trao quyền mạnh hơn, Thông tư đặt ra yêu cầu hậu kiểm và trách nhiệm giải trình. Tổ chức chủ trì được chủ động hơn trong tổ chức nhân lực, bố trí nguồn lực, điều chỉnh kinh phí trong phạm vi cho phép và thực hiện nhiệm vụ, nhưng phải chịu trách nhiệm về sản phẩm, chỉ tiêu kỹ thuật, tiến độ, hiệu quả sử dụng kinh phí và tính trung thực của hồ sơ.

Thông tin về quản lý, sử dụng kinh phí được cập nhật trên nền tảng số; cơ quan quản lý theo dõi, giám sát theo nguyên tắc quản lý rủi ro và có thể yêu cầu giải trình, kiểm tra hoặc kiểm toán độc lập khi có căn cứ.

Với các cơ chế mới, Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN hướng tới thay đổi cách Nhà nước sử dụng nguồn lực tài chính để thúc đẩy công nghệ chiến lược: Đầu tư tương xứng cho con người, huy động chuyên gia giỏi, tổ chức nguồn lực theo gói công việc, cấp và thanh toán kinh phí theo mốc kết quả, trao quyền cho tổ chức thực hiện, huy động doanh nghiệp cùng tham gia và tạo dư địa xử lý rủi ro của nghiên cứu.

Mục tiêu cuối cùng là tập trung nguồn lực công vào những kết quả cụ thể: làm chủ công nghệ, hình thành sản phẩm, thúc đẩy chuyển giao và thương mại hóa, qua đó góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Xem toàn văn Thông tư: Tại đây

Nguồn: Thu Giang

Lên đầu trang