Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia

Tin tức

Kêu gọi đề xuất ở trang chủ, Thông báo, Tin tức

Thông báo Kế hoạch tài trợ nhiệm vụ khoa học và công nghệ trong khuôn khổ hợp tác quốc tế với Italia giai đoạn 2027-2029

THÔNG BÁO KẾ HOẠCH TÀI TRỢ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG KHUÔN KHỔ HỢP TÁC QUỐC TẾ VỚI ITALIA GIAI ĐOẠN 2027-2029 Căn cứ Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Căn cứ Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15; Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15; Căn cứ Nghị định số 229/2026/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia; Căn cứ Nghị định số 265/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về tài chính và đầu tư trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Căn cứ Nghị định số 267/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và một số quy định về thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; Căn cứ Chương trình số 02-CTr/BCĐTW ngày 02 tháng 02 năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về Chương trình công tác năm 2026; Căn cứ Quyết định số 23/2026/QĐ-TTg ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển; Căn cứ Quyết định số 604/QĐ-TTg ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030; Căn cứ Thông tư số 39/2025/TT-BKHCN ngày 30 tháng 11 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn về lập dự toán, quản lý sử dụng và quyết toán một số nội dung chi ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Căn cứ Thông tư số 44/2025/TT-BKHCN ngày 30 tháng 11 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ do Bộ Khoa học và Công nghệ tài trợ, đặt hàng; Căn cứ Nghị định thư hợp tác về khoa học và công nghệ giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Italia ký kết năm 1992; Căn cứ Chương trình thực hiện hợp tác khoa học và công nghệ giữa Cộng hòa Italia và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn 2024-2026; Căn cứ ý kiến phê duyệt chủ trương của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ tại Phiếu trình số 920/HTQT ngày 22 tháng 6 năm 2026 của Vụ Hợp tác quốc tế về việc thông báo kêu gọi nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong khuôn khổ hợp tác quốc tế với Italia giai đoạn 2027-2029; Căn cứ Quyết định số 2276/QĐ-BKHCN ngày 01 tháng 5 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ điều chỉnh nhiệm vụ và phê duyệt kế hoạch tài chính thực hiện tài trợ, đặt hàng, hỗ trợ năm 2026 của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia; Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (Quỹ NAFOSTED) trân trọng thông báo Kế hoạch tài trợ nhiệm vụ khoa học và công nghệ trong khuôn khổ hợp tác quốc tế với Italia giai đoạn 2027-2029, cụ thể như sau: 1. Phạm vi và đối tượng nhận tài trợ a) Lĩnh vực tài trợ Quỹ xem xét tài trợ các lĩnh vực gồm: – Chuyển đổi xanh: Kinh tế tuần hoàn, năng lượng sạch, công nghệ môi trường và xử lý chất thải tiên tiến, thích ứng biến đổi khí hậu, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo tồn hệ sinh thái; – Công nghệ sinh học y dược và y sinh tiên tiến; Chăm sóc sức khỏe y tế; – Công nghệ ICT: AI, điện toán hiệu năng cao (HPC), công nghệ lượng tử, bán dẫn và mạng di động thế hệ mới (5G/6G). Trong đó, ưu tiên các đề xuất phù hợp với định hướng tại Quyết định số 23/2026/QĐ-TTg ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển. Các đề xuất nhiệm vụ không thuộc 03 lĩnh vực nêu trên sẽ không được xem xét tài trợ. b) Loại hình tài trợ: Quỹ xem xét tài trợ các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ và phát triển giải pháp xã hội. Trong khuôn khổ đợt kêu gọi này, Quỹ không tài trợ cụm nhiệm vụ, chuỗi nhiệm vụ. c) Đối tượng nhận tài trợ: Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có quyền và nghĩa vụ theo pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; có năng lực, kinh nghiệm, có chức năng, nhiệm vụ hoặc lĩnh vực hoạt động phù hợp với lĩnh vực nghiên cứu của nhiệm vụ và không thuộc các trường hợp

Kêu gọi đề xuất ở trang chủ, Thông báo, Tin tức

Thông báo Kế hoạch tài trợ Nghiên cứu ứng dụng năm 2026

THÔNG BÁO KẾ HOẠCH TÀI TRỢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG NĂM 2026 Căn cứ Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Căn cứ Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15; Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15; Căn cứ Nghị định 229/2026/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia; Căn cứ Nghị định 265/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ hướng dẫn Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo về tài chính và đầu tư trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Căn cứ Nghị định 267/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và một số quy định về thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; Căn cứ Chương trình số 02-CTr/BCĐTW ngày 02 tháng 02 năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về Chương trình công tác năm 2026; Căn cứ Quyết định số 604/QĐ-TTg ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030; Căn cứ Thông tư số 24/2025/TT-BKHCN ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Bảng phân loại lĩnh vực khoa học và công nghệ; Căn cứ Thông tư số 39/2025/TT-BKHCN ngày 30 tháng 11 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn về lập dự toán, quản lý sử dụng và quyết toán một số nội dung chi ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Căn cứ Thông tư số 44/2025/TT-BKHCN ngày 30 tháng 11 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ do Bộ Khoa học và Công nghệ tài trợ, đặt hàng; Căn cứ Quyết định số 2227/QĐ-BKHCN ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Kế hoạch tổng thể về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm giai đoạn 2026-2030; Căn cứ Quyết định số 2276/QĐ-BKHCN ngày 01 tháng 5 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ điều chỉnh nhiệm vụ và phê duyệt kế hoạch tài chính thực hiện tài trợ, đặt hàng, hỗ trợ năm 2026 của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia; Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (Quỹ) trân trọng thông báo Kế hoạch tài trợ nghiên cứu ứng dụng năm 2026, cụ thể như sau: 1.Phạm vi và đối tượng nhận tài trợ a) Phạm vi tài trợ Trong khuôn khổ kêu gọi lần này, Quỹ xem xét tài trợ các nhiệm vụ, cụm nhiệm vụ thuộc loại hình “nghiên cứu ứng dụng” nhằm tạo ra các kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng, góp phần tạo ra giải pháp phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh, xây dựng chính sách, phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trong các lĩnh vực ưu tiên sau đây: – Lĩnh vực thông tin và truyền thông: trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), chuỗi khối (Blockchain), mạng thông tin di động 5G/6G, an ninh mạng, điện toán lượng tử, bản sao số (Digital Twin). – Lĩnh vực tự động hóa: robot, thiết bị bay không người lái (UAV, Drone), phương tiện tự hành. – Lĩnh vực bán dẫn: vật liệu điện tử, bán dẫn, lượng tử, thiết kế vi mạch, linh kiện quang tử, cảm biến. – Lĩnh vực y, sinh học: chỉnh sửa gen, liệu pháp tế bào và miễn dịch, y học dự phòng, y học chính xác, y sinh học tái tạo, in sinh học 3D và kỹ thuật mô, thiết bị y tế thông minh, thiết bị đeo và cảm biến sinh học. – Lĩnh vực dược: thuốc mới, vắc xin, dược phẩm sinh học, dược liệu, công nghệ bào chế và hệ dẫn truyền thuốc tiên tiến, công nghệ phân tích và kiểm nghiệm thuốc. – Lĩnh vực nông nghiệp: công nghệ sinh học nông nghiệp, chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản; nông nghiệp chính xác, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp số; canh tác bền vững, chế biến và bảo quản nông sản. – Lĩnh vực vật liệu: vật liệu mới, vật liệu nano, vật liệu composite, vật liệu thông minh. – Lĩnh vực năng lượng và môi trường bền vững: hydro xanh, pin thế hệ mới, lưu trữ năng lượng, lưới điện thông minh, tái chế và tuần hoàn vật liệu, hệ thống giám sát môi trường tự động. – Lĩnh vực biển, trái đất: robot biển, năng lượng biển, công nghệ điều tra và thăm dò địa chất. b) Loại hình tài trợ: Nghiên cứu ứng dụng. c) Đối tượng nhận tài trợ: Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có quyền và nghĩa vụ theo pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là

Thông báo, Tin tức

Thông báo về việc đánh giá định kỳ đợt 2, 3 đối với các đề tài nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia tài trợ

THÔNG BÁO Về việc đánh giá định kỳ đợt 2, 3 đối với các đề tài nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia tài trợ Căn cứ Quy định về tổ chức thực hiện đề tài nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (sau đây gọi tắt là Quỹ) tài trợ và Hợp đồng nghiên cứu khoa học đã ký với các tổ chức chủ trì, Quỹ thông báo kế hoạch đánh giá định kỳ đợt 2 và đợt 3 năm 2026 đối với các đề tài nghiên cứu cơ bản (NCCB) và nghiên cứu ứng dụng (NCUD) trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn như sau: 1. Đối tượng đánh giá Các đề tài thuộc diện đánh giá trong năm 2026 bao gồm: – Đề tài đang thực hiện theo thời gian quy định trong hợp đồng; – Đề tài kết thúc thời gian thực hiện theo hợp đồng; – Đề tài đã được gia hạn thời gian thực hiện hoặc đang trong thời gian chờ công bố kết quả trong năm 2026. Các đề tài được tổ chức đánh giá theo từng đợt như sau: a) Đối với đề tài nghiên cứu cơ bản (NCCB): – Đợt 2 năm 2026: Các đề tài ký hợp đồng trong tháng 9 năm 2023, tháng 11 năm 2023 và tháng 9 năm 2024; – Đợt 3 năm 2026: Các đề tài ký hợp đồng trong tháng 11 năm 2025 và tháng 12 năm 2025. b) Đối với đề tài nghiên cứu ứng dụng (NCUD): – Đợt 2 năm 2026: Các đề tài ký hợp đồng trong tháng 10 năm 2023 và tháng 9 năm 2024; – Đợt 3 năm 2026: Các đề tài ký hợp đồng trong tháng 12 năm 2024; tháng 11, 12 năm 2025. 2. Hồ sơ đánh giá Chủ nhiệm đề tài và tổ chức chủ trì lập, gửi Quỹ các tài liệu sau: – Báo cáo định kỳ tình hình thực hiện đề tài; – Báo cáo tình hình sử dụng kinh phí của đề tài (đối với phần kinh phí đã thanh toán qua Kho bạc Nhà nước). Kết quả đánh giá định kỳ là căn cứ để Quỹ xác nhận khối lượng công việc đã thực hiện trong năm 2026 và xem xét cấp kinh phí thực hiện cho giai đoạn tiếp theo của đề tài theo quy định. 3. Hướng dẫn nộp hồ sơ Bước 1. Chủ nhiệm đề tài đăng nhập Hệ thống quản lý đề tài trực tuyến của Quỹ tại địa chỉ https://e-services.nafosted.gov.vn/ bằng tài khoản cá nhân để lập các báo cáo theo hướng dẫn. Bước 2. Sau khi hoàn thiện báo cáo trên hệ thống, Chủ nhiệm đề tài gửi hồ sơ điện tử đến Quỹ, bao gồm: – Báo cáo chuyên môn; – Báo cáo tài chính. Các báo cáo phải có đầy đủ chữ ký số của Chủ nhiệm đề tài, Lãnh đạo tổ chức chủ trì và được tổ chức chủ trì đóng dấu số trước khi gửi. Hướng dẫn chi tiết cách thức nộp hồ sơ: Xem tại đây. 4. Thời hạn tiếp nhận hồ sơ Đợt đánh giá Thời gian tiếp nhận hồ sơ Đợt 2 năm 2026 Trước 17h00 ngày 7/8/2026 (Thứ Sáu) Đợt 3 năm 2026 Trước 17h00 ngày 30/11/2026 (Thứ Hai) Quỹ đề nghị các tổ chức chủ trì và chủ nhiệm đề tài chủ động chuẩn bị hồ sơ và gửi đúng thời hạn để bảo đảm tiến độ đánh giá. 5. Tổ chức thực hiện Trong trường hợp cần thiết, Cơ quan điều hành Quỹ sẽ tiến hành kiểm tra trực tiếp tại tổ chức chủ trì đối với một số đề tài. Kết quả đánh giá định kỳ sẽ được Quỹ thông báo đến tổ chức chủ trì và chủ nhiệm đề tài trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày kết thúc mỗi đợt tiếp nhận hồ sơ. Tin: Phòng Quản lý KHXH&NV

Sự kiện, Tin tức

Tổng công trình sư có thể nhận được mức lương 300 triệu đồng/tháng

Tổng công trình sư có thể nhận được mức lương 300 triệu đồng/tháng. Đây là thông tin được nêu tại Hội thảo “Góp ý hoàn thiện cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình quốc gia đặc biệt sử dụng ngân sách Nhà nước” do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED), Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức ngày 9/7, tại Hà Nội. Nội dung này được đưa vào các quy định tại Dự thảo Thông tư quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước đối với các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược, theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 260/2026/NĐ-CP. PGS.TS. Đào Ngọc Chiến chia sẻ tại Hội thảo 6 nhóm cơ chế tài chính đột phá  Giới thiệu Dự thảo Thông tư trên, bà Nguyễn Thị Kim Thành, Kế toán trưởng Quỹ NAFOSTED cho biết, yêu cầu xây dựng cơ chế đặc thù đã được đặt ra rõ trong Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị với mục tiêu thu hút, trọng dụng các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia và Tổng công trình sư trong, ngoài nước thông qua chính sách cạnh tranh về thu nhập, môi trường làm việc và điều kiện sinh sống. Từ thực tiễn đó, nhóm soạn thảo xác định bốn điểm nghẽn lớn của cơ chế tài chính hiện nay, gồm: Chế độ đãi ngộ chưa đủ sức cạnh tranh; phương thức lập dự toán vẫn theo khoản mục chi thay vì theo vòng đời công nghệ; chưa có cơ chế sử dụng quỹ dự phòng rủi ro; chưa cho phép triển khai đồng thời nhiều phương án nghiên cứu độc lập đối với cùng một nhiệm vụ. Để khắc phục những điểm nghẽn này, Dự thảo Thông tư đề xuất 6 nhóm cơ chế tài chính đột phá gồm: Cơ chế đãi ngộ nhân lực tham gia nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược; kinh phí dự phòng tối đa 10% tổng kinh phí nhiệm vụ; quản lý và quyết toán theo kết quả, mức khoán; cho phép triển khai nhiều phương án nghiên cứu độc lập; trao quyền tự chủ lựa chọn nhà cung cấp; và quản lý theo chuỗi nhiệm vụ, tạo sự linh hoạt trong tổ chức thực hiện. Bà Nguyễn Thị Kim Thành chia sẻ về cơ chế tài chính đột phá Đặc biệt, Dự thảo lần đầu đề xuất khung thu nhập cạnh tranh cho đội ngũ nhân lực chủ chốt, tham khảo kinh nghiệm từ Singapore và một số quốc gia có khoa học công nghệ phát triển, được điều chỉnh theo sức mua tương đương của Việt Nam. Theo đó, mức đề xuất tối đa là 300 triệu đồng/tháng đối với Tổng công trình sư, 250 triệu đồng/tháng đối với Kiến trúc sư trưởng, 150 triệu đồng/tháng đối với Chủ nhiệm nhiệm vụ hoặc Chủ tịch Hội đồng và 40 triệu đồng/tháng đối với các chuyên gia, nhà khoa học tham gia. Mức 300 triệu đồng/tháng dành cho Tổng công trình sư được đề xuất cao hơn mức quy đổi nhằm tăng sức cạnh tranh đối với nguồn nhân lực đặc biệt khan hiếm. Theo bà Nguyễn Thị Kim Thành, Dự thảo Thông tư đánh dấu sự chuyển đổi từ tư duy “quản lý chi phí” sang “đầu tư cho phát triển công nghệ chiến lược”, tạo nền tảng thu hút nhân tài, làm chủ công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Phát triển và thương mại hóa trên 30 sản phẩm công nghệ chiến lược Ông Nguyễn Minh Quân, chuyên viên Quỹ NAFOSTED chia sẻ tại Hội thảo một số nội dung về Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược giai đoạn 2026–2030. Chương trình được xây dựng với 5 quan điểm chủ đạo: Lấy sản phẩm làm mục tiêu; lấy công nghệ chiến lược, đặc biệt là công nghệ lõi, làm nền tảng; phát huy vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong thương mại hóa; gắn phát triển công nghệ với tự chủ quốc gia, quốc phòng, an ninh; bảo đảm lộ trình triển khai linh hoạt theo chuỗi giá trị và được cập nhật thường xuyên theo yêu cầu thực tiễn. Ông Nguyễn Minh Quân trình bày tại Hội thảo Mục tiêu đến năm 2030 là phát triển và thương mại hóa trên 30 sản phẩm công nghệ chiến lược, làm chủ hoàn toàn ít nhất 12 công nghệ lõi, đưa trên 10 sản phẩm cạnh tranh thành công trên thị trường khu vực và quốc tế, đồng thời hình thành tối thiểu 5 chuỗi sản phẩm công nghệ chiến lược. Các nhiệm vụ sẽ được tổ chức xuyên suốt từ xác định bài toán thực tiễn, phát triển công nghệ, hoàn thiện sản phẩm đến thương mại hóa và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Điểm mới quan trọng là phương thức quản lý theo kết quả đầu ra. Kinh phí được bố trí theo các mốc đánh giá gắn với sản phẩm cụ thể; việc tiếp tục cấp vốn, gia hạn hoặc dừng nhiệm vụ sẽ căn cứ vào kết quả thực tế. Cơ cấu nguồn lực dự kiến gồm khoảng 70% từ ngân sách nhà nước, phần còn lại huy động từ doanh nghiệp, các quỹ khoa học và công nghệ, quỹ đầu tư, nguồn tài trợ và các nguồn hợp pháp khác. Toàn cảnh Hội thảo Chương trình cũng áp dụng nhiều cơ chế đột phá như cho phép nhiều tổ chức cùng nghiên cứu một mục tiêu để lựa chọn phương án tối ưu, triển khai cơ chế thử nghiệm có

Kêu gọi đề xuất ở trang chủ, Thông báo, Tin tức

Thông báo Kế hoạch tài trợ nhiệm vụ nghiên cứu phát triển công nghệ năm 2026

THÔNG BÁO KẾ HOẠCH TÀI TRỢ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ NĂM 2026 Căn cứ Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Căn cứ Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15; Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15; Căn cứ Nghị định số 229/2026/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia; Căn cứ Nghị định số 265/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về tài chính và đầu tư trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Căn cứ Nghị định số 267/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và một số quy định về thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; Căn cứ Chương trình số 02-CTr/BCĐTW ngày 02 tháng 02 năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về Chương trình công tác năm 2026; Căn cứ Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30 tháng 4 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược; Căn cứ Quyết định số 604/QĐ-TTg ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030; Căn cứ Thông tư số 39/2025/TT-BKHCN ngày 30 tháng 11 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn về lập dự toán, quản lý sử dụng và quyết toán một số nội dung chi ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Căn cứ Thông tư số 44/2025/TT-BKHCN ngày 30 tháng 11 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ do Bộ Khoa học và Công nghệ tài trợ, đặt hàng; Căn cứ Quyết định số 2227/QĐ-BKHCN ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Kế hoạch tổng thể về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm giai đoạn 2026-2030; Căn cứ Quyết định số 2276/QĐ-BKHCN ngày 01 tháng 5 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ điều chỉnh nhiệm vụ và phê duyệt kế hoạch tài chính thực hiện tài trợ, đặt hàng, hỗ trợ năm 2026 của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia; Căn cứ kế hoạch hoạt động năm 2026 và khả năng cân đối kinh phí của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (sau đây gọi tắt là Quỹ). Quỹ trân trọng thông báo Kế hoạch tài trợ nhiệm vụ nghiên cứu phát triển công nghệ năm 2026, cụ thể như sau: 1. Phạm vi và đối tượng nhận tài trợ a) Phạm vi tài trợ Quỹ xem xét tài trợ các nhiệm vụ nghiên cứu phát triển công nghệ có mục tiêu, nội dung, sản phẩm và khả năng ứng dụng phù hợp với định hướng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Các nhiệm vụ đăng ký tài trợ tập trung vào một hoặc một số nhóm định hướng sau: – Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bản sao số, điện toán đám mây, điện toán biên, Internet vạn vật, chuỗi khối, an ninh mạng và lượng tử; – Công nghệ mạng di động thế hệ sau, trong đó có 5G, 6G và các công nghệ nền tảng phục vụ hạ tầng kết nối số; – Công nghệ chip bán dẫn, robot, tự động hóa thông minh, thiết bị bay không người lái và các hệ thống tự động; – Công nghệ sinh học, y sinh tiên tiến, thiết bị y tế, dược công nghệ và các giải pháp công nghệ phục vụ chăm sóc sức khỏe; – Công nghệ năng lượng mới, năng lượng tái tạo, lưới điện thông minh, vật liệu mới, vật liệu tiên tiến và công nghệ nguyên tử vì mục đích hòa bình; – Công nghệ biển, đại dương, lòng đất; công nghệ hàng không, vũ trụ; công nghệ đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị và các công nghệ phục vụ hạ tầng chiến lược; – Công nghệ phục vụ các ngành, lĩnh vực có nhu cầu ứng dụng lớn như điện tử – bán dẫn, logistics, cảng biển, quản lý chuỗi cung ứng thông minh, dịch vụ số cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, cơ khí chính xác, thủy sản công nghệ cao, nông nghiệp chính xác, hóa chất, vật liệu mới, dệt may và da giày. b) Loại hình tài trợ: Quỹ xem xét tài trợ nhiệm vụ và cụm nhiệm vụ nghiên cứu phát triển công nghệ. Trong khuôn khổ kêu gọi lần này, Quỹ không tài trợ chuỗi nhiệm vụ. c) Đối tượng nhận tài trợ: Tổ chức, doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, có năng lực, kinh nghiệm, có chức năng, nhiệm vụ hoặc lĩnh vực hoạt động phù hợp với lĩnh vực nghiên cứu và

Sự kiện, Thông báo, Tin tức

Thông báo về việc tổ chức Hội thảo “Góp ý hoàn thiện cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình quốc gia đặc biệt sử dụng ngân sách nhà nước”

Nhằm trao đổi, thảo luận và thu thập ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học, cơ quan, tổ chức liên quan để hoàn thiện Dự thảo Thông tư quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình quốc gia đặc biệt sử dụng ngân sách nhà nước, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia tổ chức Hội thảo: “Góp ý hoàn thiện cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình quốc gia đặc biệt sử dụng ngân sách nhà nước”. Thời gian: Từ 8:00 – 12:00 ngày 09/7/2026 (Thứ năm) Địa điểm: Phòng 204, Toà nhà Cục đổi mới sáng tạo, 113 Trần Duy Hưng, Yên Hoà, Hà Nội. Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia trân trọng kính mời các nhà khoa học, nhà quản lý, đại diện các tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp quan tâm đăng ký tham dự và trao đổi, đóng góp ý kiến tại Hội thảo. Link tham dự trực tuyến: https://nafosted.gov.vn/hoithaohanoi/ Mã QR Tài liệu Hội thảo

Sự kiện, Tin tức

Từ Bộ Xây dựng, NAFOSTED khởi động chương trình đồng hành cùng các bộ, ngành triển khai hệ thống quản lý khoa học và công nghệ trực tuyến

Ngày 03/7/2026, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) đã phối hợp với Bộ Xây dựng tổ chức chương trình tập huấn, hướng dẫn sử dụng Hệ thống quản lý trực tuyến các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KH,CN&ĐMST). Đây là hoạt động triển khai cụ thể nhằm thực hiện chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW và các quy định mới của Bộ Khoa học và Công nghệ. Phát biểu khai mạc chương trình tập huấn, ông Hoàng Thanh Nam, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng nhấn mạnh, việc triển khai Hệ thống quản lý trực tuyến các nhiệm vụ KH,CN&ĐMST là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động khoa học và công nghệ. Theo ông Hoàng Thanh Nam, việc áp dụng hệ thống quản lý thống nhất trên nền tảng số không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành, bảo đảm tính công khai, minh bạch trong toàn bộ quy trình triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ mà còn tạo thuận lợi cho các nhà khoa học, tổ chức chủ trì và cơ quan quản lý trong quá trình phối hợp, theo dõi và đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ. Ông Hoàng Thanh Nam, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng phát biểu khai mạc Hội nghị Ông Hoàng Thanh Nam đồng thời đánh giá cao sự chủ động và tinh thần đồng hành của Quỹ NAFOSTED trong việc trực tiếp tổ chức tập huấn, hướng dẫn tại chỗ cho các đơn vị của Bộ Xây dựng, qua đó góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa công tác quản lý khoa học và công nghệ tại các bộ, ngành. Bộ Xây dựng là đơn vị đầu tiên được Quỹ NAFOSTED trực tiếp cử đội ngũ chuyên gia đến làm việc, hướng dẫn và hỗ trợ tại chỗ theo phương thức “cầm tay chỉ việc”. Hoạt động này thể hiện vai trò tiên phong, chủ động của Quỹ không chỉ trong việc tài trợ và quản lý các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo mà còn trong việc kiến tạo, dẫn dắt quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Thông qua việc đồng hành sát sao với các bộ, ngành, Quỹ hướng tới xây dựng một nền tảng quản lý thống nhất, hiện đại, minh bạch và liên thông, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị, sử dụng nguồn lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia. Tại chương trình tập huấn, Ông Vũ Văn Phán – Phó Trưởng phòng phụ trách phòng Chuyển đổi số, Quỹ NAFOSTED, đã giới thiệu tổng quan về cơ sở pháp lý, kiến trúc và quy trình vận hành của Hệ thống quản lý trực tuyến các nhiệm vụ KH,CN&ĐMST. Nội dung hướng dẫn tập trung vào các nhóm chức năng chính dành cho các đối tượng sử dụng khác nhau, bao gồm nhà khoa học, tổ chức chủ trì, cơ quan quản lý nhiệm vụ và cơ quan quản trị hệ thống. Các đại biểu được hướng dẫn chi tiết về quy trình đăng nhập và xác thực tài khoản; đăng tải thông báo tuyển chọn; khởi tạo và nộp hồ sơ nhiệm vụ; tiếp nhận, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ; tổ chức đánh giá xét chọn trực tuyến; thực hiện quy trình thảo luận, ký kết hợp đồng điện tử; theo dõi tiến độ thực hiện nhiệm vụ, báo cáo định kỳ và báo cáo cuối kỳ. Bên cạnh đó, hệ thống dashboard quản trị cũng được giới thiệu nhằm hỗ trợ các cấp quản lý theo dõi, thống kê, đánh giá tình hình triển khai nhiệm vụ và hiệu quả sử dụng nguồn lực khoa học, công nghệ. Ông Vũ Văn Phán, Phó Trưởng phòng phụ trách phòng Chuyển đổi số, Quỹ NAFOSTED giới thiệu và hướng dẫn các đại biểu sử dụng Hệ thống Sau phần giới thiệu tổng quan, ông Phán và đội ngũ kỹ thuật của Quỹ đã trực tiếp thao tác làm mẫu trên Hệ thống để các đại biểu theo dõi, đồng thời hướng dẫn thực hành trên máy tính cá nhân. Phương thức tập huấn trực quan, tương tác trực tiếp đã giúp các cán bộ của Bộ Xây dựng nhanh chóng nắm bắt quy trình nghiệp vụ, xử lý các tình huống phát sinh và làm quen với các chức năng của Hệ thống. Trong phần trao đổi, thảo luận, các đại biểu đã tích cực đặt câu hỏi liên quan đến quy trình tuyển chọn, đánh giá nhiệm vụ, quy trình thảo luận và ký kết hợp đồng điện tử, phân quyền người dùng cũng như các tình huống phát sinh trong quá trình triển khai thực tế. Đại diện Quỹ NAFOSTED đã trực tiếp giải đáp, hướng dẫn cụ thể nhằm bảo đảm việc vận hành Hệ thống được thống nhất, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu quản lý của từng đơn vị. Toàn cảnh Hội nghị Việc Quỹ NAFOSTED trực tiếp triển khai tập huấn tại Bộ Xây dựng không chỉ góp phần nâng cao năng lực sử dụng nền tảng số cho đội ngũ cán bộ quản lý khoa học và công nghệ mà còn tạo tiền đề quan trọng để nhân rộng mô hình triển khai tại các bộ, ngành, địa phương trong thời gian tới. Đây là bước đi thiết thực nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng hệ sinh thái quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới

Sự kiện, Tin tức

Mở rộng “bản đồ” hợp tác quốc tế: NAFOSTED ký kết cơ chế đồng tài trợ với Belarus

Trong khuôn khổ chuyến công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ tham dự Khóa họp lần thứ 12 của Ủy ban hỗn hợp Việt Nam – Belarus về hợp tác khoa học và công nghệ diễn ra từ ngày 29/6 đến ngày 03/7/2026, các cơ quan của hai nước đã tiến hành trao đổi, đàm phán nhiều nội dung hợp tác quan trọng trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đó, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Ủy ban Khoa học và Công nghệ Nhà nước Cộng hòa Belarus đã ký kết Biên bản cuộc học thống nhất kế hoạch hợp tác triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ giữa hai bên. Đồng thời, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) và Quỹ Nghiên cứu cơ bản Cộng hòa Belarus (NCCB) cũng ký kết Thỏa thuận hợp tác song phương nhằm triển khai cơ chế đồng tài trợ nghiên cứu khoa học giữa hai quốc gia. Đại diện Bộ KH&CN và Ủy ban KH&CN Belarus ký Biên bản cuộc họp Ủy ban hỗn hợp Việt Nam – Belarus Lễ ký kết đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác khoa học và công nghệ giữa Việt Nam và Belarus, đồng thời mở ra cơ hội thúc đẩy các chương trình nghiên cứu chung có chất lượng và tầm ảnh hưởng quốc tế. Đại diện hai Quỹ ký kết Thỏa thuận hợp tác song phương Phát biểu tại buổi làm việc, ông Alexey Evgenievich – Giám đốc Quỹ NCCB Cộng hoà Belarus, Chủ tịch hội đồng khoa học công nghệ Quỹ cho biết, Quỹ NCCB Cộng hòa Belarus được thành lập từ năm 1991, hiện là cơ quan tài trợ duy nhất của Belarus tài trợ các nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn. Với mạng lưới hợp tác gồm 45 đối tác tài trợ quốc tế và khoảng 800 nhiệm vụ nghiên cứu mới được tài trợ mỗi năm, Quỹ đã trở thành một trong những thiết chế tài trợ nghiên cứu quan trọng của Belarus. Lãnh đạo Quỹ Belarus bày tỏ kỳ vọng việc thiết lập quan hệ hợp tác với NAFOSTED sẽ mở ra một chương mới trong hợp tác nghiên cứu song phương, với kế hoạch công bố đợt kêu gọi tài trợ chung ngay trong năm 2026 và bắt đầu triển khai tài trợ từ năm 2027. Về phía Việt Nam, PGS.TS. Đào Ngọc Chiến – Giám đốc Cơ quan điều hành Quỹ NAFOSTED khẳng định, việc mở rộng hợp tác quốc tế thông qua cơ chế đồng tài trợ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Quỹ NAFOSTED nhằm thực hiện chức năng hỗ trợ, tài trợ và thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia. Thông qua các chương trình hợp tác quốc tế, Quỹ không chỉ tạo điều kiện để các nhà khoa học Việt Nam tham gia vào các mạng lưới nghiên cứu toàn cầu mà còn góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, tăng cường chuyển giao tri thức, thúc đẩy công bố quốc tế và tạo ra các kết quả khoa học, công nghệ có giá trị phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Ông Đào Ngọc Chiến nhấn mạnh, việc lựa chọn các nhiệm vụ hợp tác cần bảo đảm các nguyên tắc cơ bản, bao gồm: phù hợp với định hướng ưu tiên của cả hai quốc gia; tạo ra các kết quả khoa học và công nghệ có giá trị thực tiễn; phát huy thế mạnh của các tổ chức nghiên cứu, trường đại học của mỗi bên; bảo đảm sự tham gia thực chất, cân bằng của các nhóm nghiên cứu; đồng thời xây dựng cơ chế đánh giá chung theo các tiêu chí khách quan, công bằng và minh bạch. Theo thỏa thuận hợp tác, hai Quỹ dự kiến sẽ triển khai cơ chế đồng tài trợ thường niên cho khoảng 5–10 nhiệm vụ nghiên cứu chung trong các lĩnh vực ưu tiên như công nghệ thông tin và phần mềm, công nghệ cơ khí và chế tạo, công nghệ sinh học và y tế, quang học – laser – quang sinh học, hóa học và khoa học trái đất. Đây là những lĩnh vực có tiềm năng hợp tác lớn, phù hợp với định hướng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của cả Việt Nam và Belarus. Thỏa thuận hợp tác giữa hai Quỹ mở ra nhiều cơ hội mới cho các nhà khoa học Việt Nam và Belarus Trong thời gian tới, trên cơ sở các thỏa thuận hợp tác đã được ký kết, Quỹ NAFOSTED dự kiến triển khai thông báo kêu gọi đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ hợp tác với Belarus theo hai cơ chế. Cụ thể, các nhiệm vụ sẽ được triển khai dưới hình thức hợp tác Nghị định thư giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Ủy ban Khoa học và Công nghệ Nhà nước Cộng hòa Belarus, đồng thời triển khai cơ chế đồng tài trợ nghiên cứu song phương giữa Quỹ NAFOSTED và Quỹ NCCB Cộng hòa Belarus. Việc đồng thời thúc đẩy hai kênh hợp tác này không chỉ mở rộng cơ hội tiếp cận nguồn lực tài trợ quốc tế cho các nhà khoa học và tổ chức nghiên cứu của hai nước, mà còn góp phần hình thành các nhóm nghiên cứu hợp tác có năng lực, thúc đẩy chuyển giao tri thức, nâng cao chất lượng nghiên cứu và tạo ra các kết quả khoa học, công nghệ có giá trị, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm

Sự kiện, Tin tức

Nghị định 229/2026/NĐ-CP: Xoá bỏ rào cản, mở đường cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo bứt phá

Ngày 25/6/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 229/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED), thay thế các quy định trước đây về tổ chức và hoạt động của Quỹ. Nghị định được ban hành nhằm cụ thể hóa Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025, đồng thời tạo lập khuôn khổ pháp lý mới, đồng bộ và hiện đại để Quỹ phát huy vai trò là công cụ tài chính quốc gia trong thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nghị định số 229/2026/NĐ-CP tập trung tháo gỡ những vướng mắc về tổ chức, cơ chế hoạt động và quản lý tài chính của Quỹ, đồng thời bổ sung nhiều cơ chế mới, tiệm cận với thông lệ quốc tế. Trong đó, có 5 điểm đổi mới nổi bật. Xác lập mục tiêu phát triển mới cho Quỹ theo chuẩn mực quốc tế Lần đầu tiên, Nghị định xác định rõ mục tiêu hoạt động của Quỹ không chỉ dừng lại ở hỗ trợ nghiên cứu khoa học mà hướng tới thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia, đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu chất lượng cao và xây dựng các tổ chức nghiên cứu có uy tín trong khu vực và quốc tế. Đồng thời, Nghị định đặt mục tiêu xây dựng mô hình quỹ tài trợ nghiên cứu khoa học độc lập, minh bạch, cạnh tranh và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế. Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy hỗ trợ nghiên cứu sang coi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực trung tâm của phát triển kinh tế – xã hội. Mở rộng mạnh mẽ phạm vi tài trợ, đặt hàng và hỗ trợ Nghị định quy định đầy đủ cơ sở pháp lý để Quỹ thực hiện tài trợ, đặt hàng các nhiệm vụ, cụm nhiệm vụ và chuỗi nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, bao quát toàn bộ chuỗi từ nghiên cứu cơ bản đến sản xuất thử nghiệm trên hệ thống thiết bị, dây chuyền công nghệ nhằm hoàn thiện và ổn định công nghệ trước khi thương mại hóa. Đặc biệt, nhiều phương thức hỗ trợ mới được quy định đầy đủ về mặt pháp lý, bao gồm: – Hỗ trợ các nhiệm vụ theo mô hình liên kết “3 Nhà”; – Tài trợ, đặt hàng theo kết quả đầu ra; – Hỗ trợ hoạt động kiểm chứng công nghệ; – Hỗ trợ hình thành và phát triển hạ tầng công nghệ phục vụ công nghệ cao, công nghệ chiến lược và công nghệ lõi; – Hỗ trợ bồi dưỡng, phát triển năng lực nghiên cứu, thúc đẩy trao đổi học thuật và phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao. Những quy định này tạo cơ sở để Quỹ thực hiện đầy đủ vai trò là công cụ tài chính quốc gia trong phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nghị định 229 tạo hành lang pháp lý để Quỹ NAFOSTED phát huy hiệu quả vai trò là cơ quan tài trợ Quốc gia Đổi mới căn bản cơ chế tài chính theo hướng quản lý dựa trên kết quả Nghị định số 229/2026/NĐ-CP tạo ra bước đột phá trong cơ chế tài chính đối với Quỹ thông qua việc chuyển mạnh từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả và hiệu quả. Theo đó, ngân sách nhà nước bố trí cho Quỹ theo tổng mức hằng năm, không gắn với danh mục nhiệm vụ cụ thể tại thời điểm giao dự toán. Điều này cho phép Quỹ chủ động xây dựng, lựa chọn và tổ chức thực hiện các chương trình, nhiệm vụ phù hợp với định hướng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia. Bên cạnh đó, việc cấp phát, thanh toán và quyết toán kinh phí được thực hiện theo tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ, thay cho phương thức kiểm soát chi tiết từng khoản chi như trước đây. Nghị định cũng bổ sung các hình thức tài trợ mới như tài trợ theo kết quả và đồng tài trợ, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước và thúc đẩy huy động nguồn lực xã hội. Đây được xem là bước chuyển quan trọng từ cơ chế quản lý hành chính sang cơ chế đầu tư công dựa trên hiệu quả và tác động của hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thiết lập cơ chế quản trị rủi ro trong nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo Một điểm mới mang tính đột phá khác của Nghị định là việc xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá và quản trị rủi ro xuyên suốt trong quá trình thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo đó, Quỹ sẽ thực hiện các hoạt động giám sát thường xuyên, định kỳ, đột xuất và hậu kiểm; đồng thời thiết lập quy trình nhận diện, đánh giá, phân loại và xử lý rủi ro. Nghị định cũng quy định rõ mức độ rủi ro có thể chấp nhận, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ và trách nhiệm của Quỹ trong việc xử lý các tình huống phát sinh. Việc chính thức thừa nhận và quản lý rủi ro trong nghiên cứu khoa học thể hiện sự thay đổi căn bản trong tư duy quản lý: từ việc hạn chế tối đa rủi ro sang chấp nhận rủi ro có kiểm soát đối

Sự kiện, Tin tức

Khoa học và công nghệ đồng hành phát triển nông thôn, miền núi: Dấu ấn Chương trình giai đoạn 2016 – 2025

Ngày 26/6/2026, tại Hà Nội, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia phối hợp với Cục Đổi mới sáng taoh tổ chức Hội thảo tổng kết “Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 – 2025”. Hội thảo là dịp đánh giá toàn diện kết quả triển khai Chương trình trong suốt 10 năm qua, đồng thời nhìn nhận những bài học kinh nghiệm và đề xuất định hướng đổi mới hoạt động ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn tiếp theo. Tham dự Hội thảo có ông Lê Xuân Định – Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, ông Nguyễn Mai Dương – Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, ông Chu Thúc Đạt – Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, ông Nguyễn Phú Bình – Phó Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia, ông Ngô Sỹ Quốc – Phó Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia, đại diện các bộ, ngành, các đơn vị trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, tổ chức chủ trì dự án cùng đông đảo chuyên gia, nhà khoa học trên cả nước. Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định khẳng định, thành công lớn nhất của Chương trình không chỉ nằm ở số lượng mô hình, quy trình khoa học và công nghệ được chuyển giao, mà còn ở việc đưa khoa học và công nghệ đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp và chính quyền cơ sở; biến tri thức thành năng suất, công nghệ thành sinh kế và đổi mới sáng tạo thành động lực phát triển của các địa phương. Đây là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của việc gắn kết hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ với yêu cầu phát triển thực tiễn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững ở khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Trung tâm truyền thông KH&CN Sau 10 năm triển khai, Chương trình đã khẳng định vai trò là một trong những chương trình khoa học và công nghệ có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc của Bộ Khoa học và Công nghệ. Với 551 dự án được triển khai và 1.426 mô hình ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ được xây dựng, Chương trình đã góp phần hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hóa tập trung, phát triển các sản phẩm chủ lực, nâng cao giá trị gia tăng của nông sản, tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện sinh kế cho người dân tại nhiều địa phương trên cả nước. Không chỉ dừng lại ở việc chuyển giao công nghệ, Chương trình còn góp phần nâng cao năng lực tiếp nhận, làm chủ và nhân rộng các tiến bộ khoa học và công nghệ tại cơ sở thông qua đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật, xây dựng mạng lưới liên kết giữa các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp với chính quyền địa phương và người dân. Đây là nền tảng quan trọng để các mô hình tiếp tục được duy trì, phát triển sau khi dự án kết thúc. Điểm nổi bật của Chương trình là phương thức triển khai gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân. Các kết quả nghiên cứu không chỉ được chuyển giao theo hướng phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của từng địa phương mà còn từng bước hình thành chuỗi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Nhiều mô hình ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, phát triển cây dược liệu, chăn nuôi an toàn sinh học, nuôi trồng thủy sản, chế biến nông sản và phát triển sản phẩm OCOP đã mang lại hiệu quả rõ rệt, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng hiện đại, bền vững. Theo chương trình Hội thảo, nhiều địa phương, viện nghiên cứu và doanh nghiệp đã chia sẻ những kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình triển khai các dự án. Đại diện Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh Tuyên Quang, Nghệ An, Lâm Đồng cùng các đơn vị chuyển giao như Viện Nghiên cứu Rau quả, Viện Dược liệu, Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng và các doanh nghiệp tiếp nhận công nghệ đã giới thiệu nhiều mô hình tiêu biểu, phân tích những kết quả đạt được, những khó khăn trong quá trình triển khai cũng như đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động chuyển giao khoa học và công nghệ trong thời gian tới. Bên lề Hội thảo, khu vực trưng bày sản phẩm đã giới thiệu nhiều sản phẩm và mô hình khoa học và công nghệ tiêu biểu được hình thành từ Chương trình. Các sản phẩm phản ánh rõ hiệu quả của việc đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vào thực tiễn sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của nông sản và tạo sinh kế bền vững cho người dân. Thứ trưởng Lê Xuân Định và các đại biểu thăm quan các gian hàng. Ảnh: Trung tâm truyền thông KH&CN Các ý

Lên đầu trang