Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia

Sự kiện, Tin tức

Tọa đàm tại Nhật Bản thúc đẩy hợp tác phát triển công nghệ chiến lược

Ngày 2/10/2025, tại Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản, đã diễn ra Tọa đàm “Hợp tác Nhà nước – Nhà khoa học – Doanh nghiệp, thúc đẩy nghiên cứu phát triển công nghệ chiến lược – Chip Edge AI”. Sự kiện do Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản phối hợp cùng FPT Japan tổ chức, với sự tham dự của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng, Giám đốc Cơ quan điều hành Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia – ông Đào Ngọc Chiến, các chuyên gia, trí thức, doanh nghiệp trong và ngoài nước. Tại tọa đàm, ông Đào Ngọc Chiến  đã có phần trình bày quan trọng, định hướng phát triển công nghệ chiến lược của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt. Ông Chiến nhấn mạnh, các công nghệ chiến lược như AI, bán dẫn, năng lượng mới không chỉ có giá trị kinh tế mà còn mang ý nghĩa địa chính trị, quyết định vị thế quốc gia trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Việt Nam cần coi sản phẩm công nghệ chiến lược là “nền tảng – động lực – đột phá” cho đổi mới sáng tạo, thúc đẩy nghiên cứu cơ bản, ứng dụng, thương mại hóa và khởi nghiệp công nghệ cao. Ông Đào Ngọc Chiến – Giám đốc Cơ quan điều hành Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia, phát biểu tại sự kiện Theo ông Chiến, Chính phủ đã xác định lộ trình phát triển công nghệ chiến lược giai đoạn 2025–2026, lựa chọn một số sản phẩm thí điểm như mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt, thiết bị & hệ thống 5G/6G, AI camera xử lý tại biên, UAV/Drone. Đây sẽ là những hình mẫu, tạo niềm tin và khơi thông chính sách cho các chương trình nghiên cứu tiếp theo. Đặc biệt, ông Chiến đề cao mô hình “Triple Helix” (Nhà nước – Viện/trường – Doanh nghiệp) trong phát triển công nghệ, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm của đổi mới sáng tạo. Ông cũng khẳng định vai trò quan trọng của trí thức Việt Nam toàn cầu – với khoảng 600.000 người đang làm việc, học tập tại các viện nghiên cứu và tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới – như một nguồn lực chiến lược để kết nối, chuyển giao công nghệ và tri thức cho Việt Nam. “Sản phẩm công nghệ chiến lược là chìa khóa để Việt Nam bứt phá. Trí thức Việt toàn cầu là nguồn lực vô giá để biến mục tiêu thành hiện thực”, ông Chiến khẳng định, đồng thời kêu gọi sự chung tay của cộng đồng chuyên gia, doanh nghiệp và nhà khoa học trong và ngoài nước để kiến tạo tương lai công nghệ chiến lược cho Việt Nam. Phát biểu chỉ đạo tại Tọa đàm, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh: công nghệ bán dẫn và AI là lĩnh vực mũi nhọn, Việt Nam cần tận dụng cơ hội để bước vào “cuộc chơi toàn cầu” với tâm thế chủ động. Bộ trưởng khẳng định Bộ KH&CN sẽ đồng hành cùng các viện nghiên cứu, doanh nghiệp và trí thức kiều bào, tạo hành lang pháp lý, cơ chế đặt hàng, cũng như nguồn lực hỗ trợ để biến các ý tưởng và kết quả nghiên cứu thành sản phẩm cụ thể, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao vị thế quốc gia. Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng chụp ảnh cùng các đại biểu Sự kiện là cơ hội tạo nền tảng thúc đẩy các ý tưởng hợp tác cụ thể, từ nghiên cứu, thử nghiệm đến ứng dụng và thương mại hóa sản phẩm công nghệ chiến lược, góp phần hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mạnh mẽ cho Việt Nam. Với sự cam kết đồng hành của Bộ Khoa học và Công nghệ, các viện nghiên cứu, doanh nghiệp trong và ngoài nước, cùng sự chung tay của cộng đồng trí thức kiều bào, các sản phẩm công nghệ chiến lược được kỳ vọng sẽ trở thành động lực quan trọng để Việt Nam bứt phá trong giai đoạn phát triển mới. Nguồn: phòng Quản lý nhiệm vụ Hợp tác quốc tế

Thông báo, Tin tức

Thông báo về việc nộp Báo cáo định kỳ đối với các đề tài hợp tác quốc tế do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia tài trợ

Theo Quy định về việc tổ chức thực hiện đề tài hợp tác quốc tế do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (Quỹ) tài trợ, và các hợp đồng nghiên cứu khoa học đã ký giữa Quỹ với các tổ chức chủ trì, các chủ nhiệm đề tài, Quỹ tổ chức đánh giá định kỳ tình hình thực hiện các đề tài hợp tác quốc tế do Quỹ tài trợ. Đề nghị các chủ nhiệm đề tài và tổ chức chủ trì của các đề tài hợp tác NAFOSTED – FWO (Bỉ) 2023 và đề tài hợp tác NAFOSTED – DFG (Đức) 2023 lập báo cáo định kỳ tình hình thực hiện đề tài, tình hình sử dụng kinh phí của đề tài (phần kinh phí đã thanh toán tại kho bạc) và gửi tới Quỹ. Kết quả đánh giá định kỳ là căn cứ để quyết định việc tiếp tục thực hiện hợp đồng. Cách thức nộp báo cáo: xem tại đây Truy cập vào hệ thống quản lý đề tài trực tuyến (OMS) của Quỹ thông qua tài khoản cá nhân, cập nhật thông tin báo cáo theo hướng dẫn và gửi tới Quỹ. Link truy cập hệ thống OMS: https://e-services.nafosted.gov.vn/ Sau khi hoàn thiện báo cáo trên hệ thống OMS, nhà khoa học gửi hồ sơ điện tử (ký số) tới Quỹ. Ký số chữ ký của chủ nhiệm đề tài, lãnh đạo tổ chức chủ trì và tổ chức chủ trì lên tệp hồ sơ (bao gồm báo cáo chuyên môn và báo cáo tài chính), tải lên hệ thống OMS. (Lưu ý: Quỹ không tiếp nhận báo cáo định kỳ bằng bản giấy theo thông báo tại https://nafosted.gov.vn/trien-khai-ky-dien-tu-trong-qua-trinh-thuc-hien-tai-tro-ho-tro-cua-quy-phat-trien-khcn-quoc-gia/) Thời hạn tiếp nhận báo cáo: Trước 17h00 ngày 15/10/2025 (Thứ tư) (Các chủ nhiệm đề tài lưu ý: hệ thống OMS sẽ tự động đóng sau thời gian trên). Cơ quan điều hành Quỹ sẽ tiến hành kiểm tra trực tiếp tại đơn vị đối với một số đề tài trong trường hợp cần thiết. Quỹ thông báo kết quả đánh giá định kỳ tới các tổ chức chủ trì và chủ nhiệm đề tài trong vòng 02 tháng kể từ ngày kết thúc đợt tiếp nhận báo cáo.  

Sự kiện, Tin tức

NAFOSTED đồng hành cùng hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam

Ngày 27/9/2025, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành đăng cai tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia SIEV-2025 với chủ đề “Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Việt Nam: Cơ hội – Thách thức – Thành tựu”. Chương trình diễn ra dưới sự chỉ đạo của Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ (NATECH) và Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ. Đây là sự kiện học thuật và kết nối trọng điểm, nằm trong khuôn khổ Đề án 844 của Bộ Khoa học và Công nghệ được tổ chức với mục tiêu kiến tạo diễn đàn khoa học – học thuật – kết nối, nơi các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, nhà đầu tư, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước có cơ hội gặp gỡ, trao đổi tri thức, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn và mở rộng các mối quan hệ hợp tác chiến lược. Chương trình thu hút hơn 500 đại biểu với hơn 100 báo cáo khoa học, trong đó có 5 tham luận tại phiên toàn thể và 26 tham luận chuyên đề, tập trung vào các lĩnh vực then chốt như chính sách, công nghệ, tài chính, mô hình hệ sinh thái và văn hóa khởi nghiệp. Toàn cảnh Hội thảo. Nguồn: Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Phát biểu tại Hội thảo, PGS.TS. Đào Ngọc Chiến – Giám đốc Quỹ NAFOSTED – khẳng định hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận sau hơn một thập kỷ phát triển và đang bước vào giai đoạn cần sự liên kết đa chiều để vươn tầm quốc tế. Từ những bước đi khiêm tốn ban đầu, Việt Nam hiện đã có hơn 3.800 startup, hàng trăm tổ chức hỗ trợ và nhiều quỹ đầu tư trong và ngoài nước. Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đã trở thành một phong trào xã hội rộng khắp, thu hút sự tham gia mạnh mẽ của giới trẻ, các trường đại học, viện nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp. Giám đốc Quỹ NAFOSTED phát biểu tại Hội thảo. Nguồn: Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Theo định hướng của Bộ Khoa học và Công nghệ, đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu nằm trong nhóm 40 quốc gia hàng đầu về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu, có ít nhất 40% doanh nghiệp thực hiện hoạt động đổi mới sáng tạo, năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp trên 55% vào tăng trưởng, đổi mới sáng tạo đóng góp hơn 1/3 GDP, và số bằng sáng chế tăng trung bình 16–18% mỗi năm, trong đó 8–10% được thương mại hóa. Để hiện thực hóa, năm nhóm giải pháp lớn đã được xác định gồm: hoàn thiện thể chế chính sách; phát triển thiết chế trung gian; đẩy mạnh đầu tư cho nghiên cứu – phát triển và thương mại hóa; thúc đẩy hội nhập quốc tế; và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong tiến trình này, NAFOSTED giữ vai trò cầu nối giữa nghiên cứu khoa học và hệ sinh thái khởi nghiệp. Quỹ tập trung vào ba định hướng lớn: nâng cao chất lượng nghiên cứu gắn với ứng dụng để tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới; đồng hành cùng doanh nghiệp trong đổi mới công nghệ, đặc biệt các dự án rủi ro cao nhưng có khả năng đột phá lớn; và hỗ trợ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp trong trường đại học, viện nghiên cứu thông qua đào tạo huấn luyện viên, thúc đẩy doanh nghiệp spin-off và các cuộc thi ý tưởng sáng tạo. Giám đốc NAFOSTED nhấn mạnh, hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam đang đứng trước những cơ hội quan trọng như sự ưu tiên mạnh mẽ từ chính sách, xu thế công nghệ của CMCN 4.0 và sự quan tâm ngày càng lớn của nhà đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, đi kèm với đó là thách thức về nguồn vốn đầu tư mạo hiểm trong nước còn hạn chế, nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng được nhu cầu và hệ thống pháp lý cần tiếp tục hoàn thiện. Ông cho rằng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo không thể phát triển bền vững nếu thiếu sự liên kết giữa Nhà nước, nhà trường, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà đầu tư. Với tinh thần đó, NAFOSTED cam kết đồng hành trong triển khai các chương trình quốc gia, hỗ trợ trường đại học và viện nghiên cứu đưa công nghệ từ giảng đường đến thị trường, cùng doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời hợp tác cùng cộng đồng đầu tư để phát hiện và nuôi dưỡng những ý tưởng khởi nghiệp đột phá. Các đại biểu tham gia Hội thảo. Nguồn: Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Trong khuôn khổ hội thảo, Ban Tổ chức cũng tổng kết hoạt động Đề án 844 với Lễ trao giấy chứng nhận “Huấn luyện viên khởi nghiệp đổi mới sáng tạo” và vinh danh các chuyên gia thực hiện nhiệm vụ 844.NV02.NTTU.02-25. Sau bốn tháng triển khai, nhiệm vụ đã tổ chức thành công chuỗi chương trình đào tạo, huấn luyện và kết nối chuyên gia, góp phần hình thành mô hình đào tạo có tính ứng dụng cao cho cộng đồng khởi nghiệp. Kết quả này không chỉ thể hiện nỗ lực của Trường Đại học Nguyễn Tất Thành và đội ngũ chuyên gia mà còn cho thấy vai trò đồng hành quan trọng của Quỹ NAFOSTED trong việc gắn kết nghiên cứu với thực tiễn, thúc đẩy đào tạo nhân lực và hỗ trợ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Sự hiện diện và cam kết của NAFOSTED

Kêu gọi đề xuất, Thông báo, Tin tức

Thông báo tuyển chọn tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia

Thực hiện Quyết định số 2848/QĐ-BKHCN ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt Danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ đặt hàng thuộc Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia giai đoạn đến năm 2030 “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ năng lượng”, mã số: KC.05/21-30 (đợt 2) để tuyển chọn thực hiện, Bộ Khoa học và Công nghệ thông báo như sau: 1. Phương thức tuyển chọn tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 20/2023/TT-BKHCN ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định tuyển chọn, giao trực tiếp tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước (Thông tư số 20/2023/TT-BKHCN). 2. Hồ sơ đăng ký tham gia tuyển chọn được chuẩn bị theo hướng dẫn tại Thông tư số 20/2023/TT-BKHCN. 3. Việc lập dự toán, định mức xây dựng dự toán ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ thực hiện theo quy định tại Thông tư số 03/2023/TT-BTC ngày 10 tháng 01 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ và Thông tư số 02/2023/TT-BKHCN ngày 08 tháng 5 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn một số nội dung chuyên môn phục vụ công tác xây dựng dự toán thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước và các quy định có liên quan. 4. Nơi nhận hồ sơ: Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ, số 113 Trần Duy Hưng, phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội. 5. Thời điểm bắt đầu nhận Hồ sơ: ngày 29 tháng 9 năm 2025 6. Thời hạn nhận hồ sơ: Trước 17 giờ 00 ngày 28 tháng 10 năm 2025, theo dấu đến của Bộ Khoa học và Công nghệ (trường hợp nộp trực tiếp) hoặc theo dấu bưu chính nơi gửi (trường hợp gửi qua bưu chính).

Kết quả tài trợ nổi bật, Kết quả tài trợ nổi bật - NCCB KHTN

Nghiên cứu phát triển phương pháp phân tích, quan trắc và đánh giá rủi ro do các chất nhóm phthalate và siloxane tích lũy trong môi trường không khí và nước tại khu vực Hà Nội, Việt Nam

Nội dung của cụm ba công trình góp phần giải quyết vấn đề thực tiễn cấp bách mang tính toàn cầu hiện nay là ô nhiễm môi trường. Trong đó ô nhiễm môi trường do sự phát tán của các hóa chất tổng hợp đã được chứng minh có độc tính gây rối loạn nội tiết mới nổi như nhóm phthalate và siloxane đang thu hút được sự quan tâm rất lớn của cộng đồng trong những năm gần đây. Phthalate (ester của acid phthalic) và siloxane (silic hữu cơ có chứa nhóm methyl) là hai nhóm chất bao gồm nhiều đồng loại có cấu trúc phức tạp và được biết đến là các phụ gia được sử dụng rất phổ biến với hàm lượng lớn (lên tới vài phầm trăm về khối lượng) trong nhiều sản phẩm như: các vật liệu bằng nhựa, vật dụng gia đình, đồ chơi trẻ em, sản phẩm chăm sóc cá nhân, mỹ phẩm, dược phẩm và thẩm mỹ…. Do được sử dụng rộng rãi, các hóa chất này đã phát tán vào các môi trường khác nhau và thậm chí đi vào chuỗi thức ăn của con người và động vật. Đáng quan tâm hơn bởi gần đây các nhà khoa học đã tìm thấy những bằng chứng về độc tính của chúng đối với động vật trong phòng thí nghiệm. Tác động chính của các nhóm phthalate và siloxane là làm thay đổi hệ nội tiết của động vật thí nghiệm như hormone sinh sản (estrogen), hormone sinh trưởng và hệ vận động. Tuy nhiên, cho đến nay những hiểu biết về mức độ phân bố trong môi trường của nhóm hóa chất này vẫn còn rất hạn chế do thiếu các phương pháp đồng bộ và năng lực phân tích chưa đáp ứng yêu cầu. Vì vậy, việc lựa chọn hướng nghiên cứu xây dựng các phương pháp phân tích hiện đại và chính xác; khả năng xử lý và làm sạch môi trường; để nâng cao hiểu biết của cộng động về nguồn gốc, sự tích lũy, rủi ro đối với môi trường để từ đó đề ra các giải pháp nhằm quản lý, sử dụng, kiểm soát các hóa chất nhóm phthalate và siloxane một cách hiệu quả là những vấn đề hết sức quan trọng và cấp bách. Hình 1: Biểu đồ phân tích thành phần chính của phthalic acid ester (phthalate và siloxane) trong không khí tại Hà Nội (Nguồn: Science of the Total Environment, 760, 143380) Công trình thứ nhất: Nội dung của nghiên cứu này phát triển phương pháp phân tích chính xác cao, hiệu quả, đồng thời 10 hợp chất nhóm phthalate và 3 hợp chất siloxane mạch vòng trong không khí ở lượng vết. Nghiên cứu đã xác định thành phần của phthalate và siloxane trong hai pha (pha hạt và pha hơi), từ đó nhóm tác giả tính toán hằng số phân bố (Kp) và hệ số phát tán (Kow) bằng phương trình bán thực nghiệm. Nhóm tác giả cũng đã đề xuất công thức ước lượng mức độ rủi ro phơi nhiễm của các hóa chất này qua con đường hít thở không khí cho các nhóm lứa tuổi khác nhau. Nghiên cứu có ý nghĩa và giá trị khoa học quan trọng trong việc phát triển các phương pháp phân tích chính xác, hiện đại; đồng thời cung cấp những hiểu biết mới về nguồn gốc phát tán, mức độ ô nhiễm trong không khí và rủi ro phơi nhiễm ở Việt Nam do các hóa chất gây rối loạn nội tiết mới nổi nhóm phthalate và siloxane. Công trình thứ hai: Trong nghiên cứu này, phương pháp chính xác để phân tích các hợp chất siloxane mạch vòng trong môi trường nước đã được phát triển thành công dựa trên thiết bị sắc ký khí ghép nối khối phổ (GC-MS) và kỹ thuật chiết pha rắn (SPE). Phương pháp phân tích có độ thu hồi cao, độ lặp lại và độ ổn định tốt, độ lệch chuẩn nhỏ, giới hạn phát hiện thấp để có thể định lượng các chất siloxane trong mẫu nước ở mức lượng vết. Nhóm tác giả đã áp dụng phương pháp phát triển được để phân tích, quan trắc mức độ phân bố của các chất siloxane mạch vòng trong các loại mẫu nước thu thập tại khu vực nội đô Hà Nội bao gồm: nước máy, nước đóng chai, nước ao hồ và nước thải (trước và sau khi xử lý). Nghiên cứu đã cung cấp bộ số liệu đáng tin cậy về mức độ ô nhiễm, bước đầu đánh giá liều lượng rủi ro phơi nhiễm siloxane qua con đường nước uống cho các nhóm lứa tuổi khác nhau và rủi ro sinh thái cho các động vật thủy sinh do sự tích lũy của siloxane trong môi trường nước. Hình 2: Mức độ ô nhiễm của phthalic acid ester (phthalate) trong các loại mẫu nước khác nhau (Nguồn: Science of the Total Environment, 788, 147831) Công trình thứ ba: Công trình là một trong những báo cáo tiên phong về đối tượng hóa chất nhóm phthalate và mẫu nước được nghiên cứu tại Việt Nam. Nghiên cứu đã phát triển phương pháp xác định đồng thời 10 chất phthalate trong mẫu nước dựa trên kỹ thuật chiết pha rắn (SPE) kết hợp với sắc ký khí ghép nối khối phổ (GC-MS). Ưu điểm của phương pháp là độ chính xác và độ ổn định cao, độ thu hồi tốt, giới hạn phát hiện thấp để có thể định danh và định lượng đồng thời 10 hợp chất nhóm phthalate trong mẫu nước ở lượng vết, tiết kiệm dung môi hữu cơ độc hại, giảm thời gian chuẩn bị mẫu và chi phí thu thập mẫu môi trường. Công trình là một trong số ít những báo cáo trên thế giới về mức độ phân bố và ô nhiễm của các

Kết quả tài trợ nổi bật

Cơ chế lan truyền ô nhiễm ven biển Nam Bộ: Giải mã nguồn gốc và tác động

Vùng biển ven bờ từ Vũng Tàu tới Kiên Giang là khu vực phát triển kinh tế – xã hội sôi động, đồng thời sở hữu hệ sinh thái phong phú của Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, khu vực này đang đối mặt với áp lực ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng từ nhiều nguồn khác nhau – đặc biệt là từ các chất dinh dưỡng (như nitơ, phosphor) và kim loại nặng (như chì, kẽm, đồng). Sự phát triển nông nghiệp thâm canh, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp và đô thị hóa đã làm gia tăng lượng chất thải và nước thải đổ ra sông, kênh rạch và cuối cùng chảy ra biển. Kết quả là chất lượng nước và trầm tích ven biển Nam Bộ suy giảm nghiêm trọng, đe dọa đến tính toàn vẹn của các hệ sinh thái ven bờ, từ rừng ngập mặn, đầm phá cho tới các rạn san hô cận bờ. Tình trạng này không chỉ tác động xấu đến đa dạng sinh học mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế và sức khỏe của hàng triệu người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh nguồn thải tại chỗ, khu vực ven biển Nam Bộ còn tiếp nhận ô nhiễm từ thượng nguồn thông qua hệ thống sông Mê Kông và sông Đồng Nai. Hai dòng sông lớn này vận chuyển phù sa và chất ô nhiễm từ lưu vực rộng hàng trăm ngàn km² trải dài qua nhiều quốc gia. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm thay đổi chế độ mưa lũ và mực nước biển dâng, cũng như tình trạng xâm nhập mặn gia tăng, cơ chế vận chuyển và lắng đọng các chất ô nhiễm ngày càng phức tạp. Các hiện tượng cực đoan – như mưa lớn, lũ lụt hay hạn mặn – có thể làm bùng phát sự cố ô nhiễm, chẳng hạn hiện tượng phú dưỡng dẫn tới “thủy triều đỏ” (tảo nở hoa) gây thiếu oxy cục bộ, hoặc sự tích tụ kim loại nặng cô đặc trong mùa khô. Thực tế đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải làm rõ: các chất ô nhiễm này bắt nguồn chủ yếu từ đâu, cơ chế truyền tải và tích tụ của chúng ra sao, và hệ quả lâu dài đối với môi trường – con người trong vùng là gì? Hình 1: Bản đồ khu vực nghiên cứu ven biển Nam Bộ. Hộp đỏ (trái) thể hiện vị trí Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ở hạ lưu lưu vực sông Mê Công Mặc dù vấn đề ô nhiễm vùng ven biển Nam Bộ đã được nhận diện, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào việc đánh giá hiện trạng (mức độ ô nhiễm nước, trầm tích bởi dinh dưỡng, kim loại nặng, thuốc trừ sâu, kháng sinh, vi nhựa…) hơn là giải thích nguyên nhân và cơ chế. Nhiều câu hỏi khoa học vẫn bỏ ngỏ: Ví dụ, tỉ lệ đóng góp của từng nguồn thải (nông nghiệp, đô thị, công nghiệp…) vào tổng lượng ô nhiễm là bao nhiêu? Những quá trình thuỷ động lực nào chi phối sự phân tán hay tích tụ của chất ô nhiễm trong nước biển và trầm tích? Điều kiện mùa mưa – mùa khô tác động như thế nào đến phạm vi lan truyền ô nhiễm? Và mức độ nguy hiểm sinh thái đến đâu – liệu các hệ sinh thái và chuỗi thức ăn ven biển đã bị tổn thương đáng kể hay chưa? Những khoảng trống này đòi hỏi một cách tiếp cận nghiên cứu liên ngành, kết hợp số liệu thực địa với mô hình phân tích tiên tiến để có câu trả lời toàn diện. Để giải quyết các vấn đề trên, nhóm các nhà khoa học do PGS.TS. Triệu Ánh Ngọc chủ trì đề tài “Nghiên cứu cơ chế truyền tải, tích tụ và phân tán chất ô nhiễm vùng biển ven bờ từ Vũng Tàu tới Kiên Giang” đã triển khai đề tài nghiên cứu công phu trong giai đoạn 2021–2025. Đề tài áp dụng cách tiếp cận đa ngành, lần đầu kết hợp đồng bộ các phương pháp truyền thống và hiện đại tại Việt Nam nhằm “giải mã” bài toán ô nhiễm ven biển Nam Bộ. Cụ thể, bên cạnh công tác khảo sát thực địa, thu thập hàng trăm mẫu nước, trầm tích và sinh vật tại các cửa sông, vùng ven bờ và gần bờ, nhóm nghiên cứu đã sử dụng các kỹ thuật phân tích tối tân: phân tích đồng vị bền (δ¹⁵N, δ¹³C trong hợp chất nitơ, carbon; tỷ lệ ²⁰⁶Pb/²⁰⁷Pb trong chì) để truy tìm dấu vết nguồn gốc chất ô nhiễm, cùng với mô hình thủy động lực – chất lượng nước 3 chiều để mô phỏng quá trình lan truyền trong các kịch bản khác nhau. Song song đó, công cụ toán MixSIAR (mô hình trộn Bayesian) được triển khai nhằm định lượng phần trăm đóng góp của từng nguồn ô nhiễm vào môi trường thông qua dữ liệu đồng vị. Đáng chú ý, kỹ thuật thủy văn đồng vị được áp dụng lần đầu cho vùng ven biển Việt Nam đã cho phép phân biệt tương đối rõ dấu hiệu ô nhiễm từ phân bón nông nghiệp, nước thải sinh hoạt hay chất thải công nghiệp dựa trên các giá trị đặc trưng của δ¹⁵N và δ¹³C. Cách tiếp cận liên ngành và tích hợp này tạo nên một khung nghiên cứu toàn diện, vừa có khả năng lượng hóa mức độ ô nhiễm, vừa truy nguyên được nguồn gốc và cơ chế lan truyền các chất ô nhiễm. Kết quả nghiên cứu đã phác họa chi tiết cơ chế truyền tải, phân tán và tích tụ các chất ô nhiễm tại vùng biển ven bờ Nam Bộ. Hệ thống sông ngòi dày đặc đóng vai

Kết quả tài trợ nổi bật

Bể chứa cacbon hữu cơ trong đất vùng đồng bằng Sông Hồng: Cơ sở quan trọng giám sát chất lượng đất và phát thải khí nhà kính từ đất

Xác định bể chứa cacbon hữu cơ trong đất: Cơ sở tham chiếu biến động SOC trong tương lai Nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và hướng tới mục tiêu Net Zero năm 2050 của Việt Nam, đề tài “Nghiên cứu xác định bể chứa cacbon hữu cơ trong đất vùng đồng bằng Sông Hồng phục vụ giám sát chất lượng đất và phát thải khí nhà kính từ đất”, mã số: ĐTĐL.CN-49/21, do TS. Nguyễn Thanh Tuấn làm chủ nhiệm đề tài; Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là Cơ quan chủ trì, đã được triển khai từ năm 2021 và hoàn thành đầu năm 2025 với những đóng góp mới mang tính đột phá. Đất vừa là bể chứa vừa là một nguồn phát thải cacbon trên cạn, có ảnh hưởng lớn đến chu trình cacbon toàn cầu. Cacbon hữu cơ trong đất (SOC) đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với độ phì của đất và chu trình cacbon toàn cầu (Peng-Tao và nnk, 2014). Vì vậy, SOC đã được lựa chọn làm chỉ thị để đánh giá sức khỏe đất và chỉ thị để theo dõi, giám sát thực hiện một trong các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc. Để theo dõi, giám sát và đánh giá sự thay đổi trữ lượng SOC ở quy mô vùng cần thiết xây dựng đường cơ sở (baseline) trữ lượng SOC hay sự phân hóa không gian trữ lượng SOC tham chiếu ở các bể cacbon trong đất, đặc biệt ở đất canh tác nông nghiệp thay đổi hàng năm. Đây là cơ sở để sau 5 năm hay 10 năm và hơn nữa trong tương lai cho phép chúng ta đánh giá sự tăng hay giảm trữ lượng SOC ở các bể cacbon, cung cấp cơ sở xác định lượng khí nhà kính phát thải từ đất sản xuất nông nghiệp thông qua công thức chuyển đổi, từ đó có thể hình thành tín chỉ cacbon từ đất sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, sự biến động SOC cho phép đánh giá sơ bộ chất lượng đất thông qua các chỉ tiêu như hàm lượng đạm… Việc giám sát biến động trữ lượng SOC hiệu quả cho phép xác định các biện pháp quản lý đất đai hợp lý, nhằm vừa đảm bảo an ninh lương thực, vừa bảo tồn SOC, tăng cường cố định và lưu trữ cacbon trong đất từ khí quyển. Vùng đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) bao gồm 11 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương (Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình), được xem là một trong các vựa lúa của Việt Nam. Vùng ĐBSH được đánh giá bị ảnh hưởng nặng nề dưới tác động của BĐKH và nước biển dâng; trong đó, các loại sử dụng đất và hoạt động nhân sinh trên đất có thể được xem là là đối tượng chịu tác động mạnh nhất. Việc xác định các bể chứa cacbon trong đất nông nghiệp vùng đồng bằng Sông Hồng là một trong những bước quan trọng trong giám sát chất lượng đất và phát thải khí nhà kính từ đất. Những đóng góp mới của đề tài Về khoa học, ở quy mô điểm, đề tài đã lần đầu tiên ứng dụng thành công nghệ quang phổ ở dải sóng khả kiến và cận hồng ngoại để đo tính hàm lượng cacbon hữu cơ trong mẫu đất vùng đồng bằng Sông Hồng, Việt Nam với sự hỗ trợ của mô hình toán học trong tiền xử lý dữ liệu phổ, lập mô hình và phân chia tập dữ liệu mẫu. Ở quy mô vùng, đề tài đã lần đầu tiên ứng dụng mô hình trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu viễn thám và một số dữ liệu sẵn có khác ước tính sự phân bố hàm lượng cacbon hữu cơ ở tầng đất 0 – 20 cm ở vùng đồng bằng Sông Hồng, Việt Nam. Công nghệ quang phổ ở dải sóng khả kiến và cận hồng ngoại để đo tính hàm lượng cacbon hữu cơ trong mẫu đất có thể mở ra hướng nghiên cứu ứng dụng mới. Ngoài ra, đề tài đã xác định được chủng vi khuẩn 457-22, K8.4 và chủng nấm 471b-01, 578.2-02 có hoạt tính cao trong phân hủy chất hữu cơ trong đất vùng nghiên cứu. Hình 1. Minh họa dữ liệu phổ thô của 10 mẫu đất và kết quả tiền xử lý phổ của 15 phương pháp, hàm lượng SOC (%) được thể hiện theo màu Về mặt thực tiễn, đề tài đã lần đầu tiên xác định các bể SOC cho các loại đất canh tác nông nghiệp chính vùng đồng bằng Sông Hồng, Việt Nam, xây dựng đường cơ sở trữ lượng cacbon hữu cơ trong đất ở tầng đất 0 – 20 cm, 0 – 30 cm, ở lớp đất 0 – 1 m cho các bể cacbon đất chính phục vụ việc giám sát trữ lượng SOC, giám sát chất lượng đất thông qua hàm lượng đạm tổng số. Nhiệm vụ đã xác định được khối lượng cacbon hữu cơ trong đất ở tầng đất 0 – 20 cm, 0 – 30 cm, trên cơ sở đó xác định tiềm năng cố định cacbon của các bể cacbon đất chính ở lớp đất 0 – 30 cm. Đề tài đã đề xuất 03 nhóm giải pháp nâng cao hàm lượng cacbon hữu cơ trong đất, giảm phát thải khí nhà kính từ đất và đảm bảo năng suất cây trồng. 3 nhóm giải pháp: (1) Nhóm giải pháp về chính sách, (2) Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện, (3) Nhóm các giải pháp cụ thể cho vùng đồng bằng Sông Hồng. Hơn nữa, 02 chủng vi khuẩn,

Thông báo

Thông báo tuyển dụng viên chức năm 2025

Căn cứ Công văn số 4264/BKHCN-TCCB ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ cho ý kiến về việc tuyển dụng viên chức tại Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia; Căn cứ Quyết định số 301/QĐ-NAFOSTED ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Giám đốc Cơ quan điều hành Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia phê duyệt Kế hoạch tuyển dụng viên chức năm 2025 của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia; Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia thông báo Tuyển dụng viên chức năm 2025, cụ thể như sau: I. VỊ TRÍ, CHỈ TIÊU, YÊU CẦU VỀ TRÌNH ĐỘ, CHUYÊN NGÀNH ĐÀO TẠO VÀ CÁC YÊU CẦU KHÁC THEO VỊ TRÍ VIỆC LÀM DỰ TUYỂN 1.VỊ TRÍ, CHỈ TIÊU TUYỂN DỤNG TT Vị trí việc làm Mã ngạch Số lượng Mô tả vị trí việc làm cần tuyển dụng 1 Hành chính – Văn phòng 01.003 01 – Tiếp nhận, xử lý văn bản, công văn đi – đến; – Kiểm tra về hình thức, thể thức văn bản và các thủ tục trình, phát hành,  ban hành văn bản, công văn  theo quy định của Quỹ và của Bộ Khoa học và Công nghệ; – Quản lý lưu trữ hồ sơ hành chính, hồ sơ nhiệm vụ, đề tài; – Quản lý các công việc nội bộ. – Tiếp nhận hồ sơ bộ phận một cửa; thực hiện thủ tục hành chính của Quỹ. 2 Tổng hợp 01.003 02 – Khai thác, phân tích và tổng hợp dữ liệu về tình hình quản lý khoa học của Quỹ; theo dõi tiến độ thực hiện công việc của các Phòng; xây dựng báo cáo tổng hợp tình hình hoạt động định kỳ, đột xuất theo phân công; – Đánh giá kết quả và tính hiệu quả của hoạt động tài trợ, hỗ trợ theo từng giai đoạn, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động; – Tham gia xây dựng, hoàn thiện hệ thống thông tin, quy trình, mẫu biểu liên quan đến công tác tổng hợp; – Phối hợp xây dựng kế hoạch hoạt động của Quỹ; 2. ĐIỀU KIỆN, TIÊU CHUẨN DỰ TUYỂN 2.1. Điều kiện chung Thực hiện theo quy định tại Điều 22 Luật Viên chức. Cụ thể: Người có đủ các điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển viên chức: – Có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam; – Từ đủ 18 tuổi trở lên; – Có Phiếu đăng ký dự tuyển theo mẫu quy định, – Có lý lịch rõ ràng; – Có văn bằng, chứng chỉ đào tạo, chứng chỉ hành nghề hoặc có năng khiếu kỹ năng phù hợp với vị trí việc làm; – Đủ sức khoẻ để thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ; – Đáp ứng các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí việc làm nhưng không được trái với quy định của pháp luật. Những người sau đây không được đăng ký dự tuyển viên chức: – Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; – Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành bản án, quyết định về hình sự của Tòa án; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng. 2.2. Vị trí, chỉ tiêu, yêu cầu về trình độ chuyên môn, ngành đào tạo và các yêu cầu khác theo vị trí việc làm STT Vị trí việc làm Yêu cầu cụ thể 1 Hành chính – Văn phòng –    Tốt nghiệp đại học trở lên chuyên ngành Văn thư, lưu trữ hoặc Quản trị văn phòng. –    Sử dụng được một ngoại ngữ tương đương bậc 3 khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam trở lên; –    Có kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản; –    Ưu tiên ứng viên đã có kinh nghiệm làm công tác văn thư lữu trữ trong tổ chức khoa học và công nghệ hoặc cơ quan/đơn vị quản lý khoa học và công nghệ. 2 Tổng hợp –    Tốt nghiệp đại học trở lên chuyên ngành kiến trúc, kinh tế, tài chính hoặc kế toán. –    Sử dụng được một ngoại ngữ tương đương bậc 3 khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam trở lên; –    Có kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản; –    Ưu tiên ứng viên đã có kinh nghiệm làm công tác tổng hợp, tài chính, kế toán, quản lý khoa học trong tổ chức khoa học và công nghệ hoặc cơ quan/đơn vị quản lý khoa học và công nghệ. 3. ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐIỂM ƯU TIÊN TRONG TUYỂN DỤNG 3.1. Đối tượng và điểm ưu tiên trong thi tuyển: a) Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B: Được cộng 7,5 điểm vào kết quả điểm vòng 2; b) Người dân tộc thiểu số, sĩ quan quân đội, sĩ quan công an, quân nhân chuyên nghiệp phục viên, người làm công tác cơ yếu chuyển ngành, học viên tốt nghiệp đào tạo sĩ quan dự bị, tốt nghiệp đào tạo chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự cấp xã ngành quân sự cơ sở được phong quân hàm sĩ quan dự bị đã đăng ký ngạch sĩ quan dự bị, con liệt sĩ, con thương binh, con bệnh binh, con của người hưởng chính sách như thương binh, con của thương binh loại B, con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, con Anh hùng Lực lượng vũ trang, con

Sự kiện, Tin tức

Quỹ NAFOSTED công bố quyết định bổ nhiệm Phó Trưởng phòng Quản lý Phát triển Công nghệ

Ngày 15/9/2025, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) đã long trọng tổ chức lễ công bố và trao quyết định bổ nhiệm Phó Trưởng phòng, Phòng Quản lý Phát triển Công nghệ. Tham dự buổi lễ có Ban Giám đốc Cơ quan điều hành Quỹ, lãnh đạo các phòng chức năng cùng toàn thể cán bộ, viên chức. Tại buổi lễ, ông Đào Ngọc Chiến – Giám đốc Quỹ NAFOSTED, đã trao quyết định bổ nhiệm chức vụ Phó Trưởng phòng, Phòng Quản lý Phát triển Công nghệ cho ông Vũ Văn Phán. Ông Đào Ngọc Chiến – Giám đốc Quỹ NAFOSTED trao Quyết định và hoa chúc mừng tân Phó Trưởng phòng. Ông Vũ Văn Phán trước khi được bổ nhiệm từng giữ cương vị Trưởng phòng Hạ tầng – Trung tâm Công nghệ thông tin. Trong quá trình công tác, ông đã tích lũy nhiều kinh nghiệm trong quản lý hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp công nghệ phục vụ công tác quản lý, điều hành hoạt động của đơn vị. Với kiến thức chuyên môn sâu rộng cùng khả năng quản lý, ông Phán được kỳ vọng sẽ có nhiều đóng góp thiết thực trong việc nâng cao chất lượng hoạt động của Quỹ, từ công tác quản lý, tài trợ, hỗ trợ nghiên cứu khoa học đến phát triển công nghệ. Phát biểu tại sự kiện, Giám đốc Quỹ NAFOSTED khẳng định, việc kiện toàn đội ngũ lãnh đạo các phòng chuyên môn là nhiệm vụ quan trọng, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong công tác quản lý, tài trợ và hỗ trợ nghiên cứu khoa học – công nghệ. Ban Lãnh đạo Quỹ tin tưởng rằng, trên cương vị mới, ông Vũ Văn Phán sẽ tiếp tục phát huy năng lực, kinh nghiệm, đồng hành cùng tập thể Phòng Quản lý Phát triển Công nghệ hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Đón nhận quyết định bổ nhiệm, ông Vũ Văn Phán bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Lãnh đạo Quỹ, đồng thời cam kết sẽ nỗ lực hết mình, phát huy tinh thần trách nhiệm, đoàn kết cùng tập thể đơn vị để hoàn thành tốt các nhiệm vụ, đóng góp vào sự phát triển chung của Quỹ NAFOSTED cũng như hệ sinh thái khoa học và công nghệ Việt Nam. Buổi lễ diễn ra trong không khí trang trọng, ấm áp, thể hiện sự quan tâm của Quỹ NAFOSTED trong công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thành công các mục tiêu, chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong giai đoạn tới. Ban Giám đốc chụp ảnh cùng với phòng Phát triển công nghệ

Sự kiện, Tin tức

Việt Nam – Liên bang Nga tăng cường hợp tác khoa học – giáo dục

Cuộc làm việc giữa lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Việt Nam và Bộ Khoa học và Giáo dục Đại học Liên bang Nga đã thống nhất nhiều định hướng hợp tác thiết thực trong đào tạo nhân lực và nghiên cứu các lĩnh vực công nghệ chiến lược, góp phần tăng cường quan hệ đối tác KH&CN và giáo dục giữa hai nước. Ngày 15/9/2025, tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Bùi Thế Duy đã có buổi làm việc với Thứ trưởng Bộ Khoa học và Giáo dục Đại học Liên bang Nga Konstantin Mogilevsky. Cùng dự về phía Bộ Khoa học và Công nghệ có đại diện lãnh đạo Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia, Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ và Vụ Hợp tác quốc tế. Thứ trưởng Bùi Thế Duy chụp ảnh lưu niệm với đoàn công tác của Bộ Khoa học và Giáo dục Đại học Liên bang Nga do Thứ trưởng Konstantin Mogilevsky là Trưởng đoàn. Tại buổi làm việc, hai bên đã cùng điểm lại những kết quả hợp tác nổi bật thời gian qua, đặc biệt là các chương trình nghiên cứu chung và hoạt động đào tạo nhân lực KH&CN. Thứ trưởng Mogilevsky khẳng định, Chính phủ Nga luôn coi trọng việc hỗ trợ sinh viên Việt Nam, với khoảng 1.000 suất học bổng được trao mỗi năm. Để tận dụng hiệu quả hơn nguồn lực quý báu này, Thứ trưởng Bùi Thế Duy đề xuất mở rộng các chương trình học bổng ngắn hạn từ 6 -12 tháng. Giải pháp này sẽ tạo điều kiện để các nhà khoa học trẻ Việt Nam nâng cao năng lực nghiên cứu, đáp ứng yêucầu phát triển trong giai đoạn mới. Hai bên cũng thống nhất định hướng hợp tác cho Năm Khoa học và Giáo dục Việt – Nga 2026, đồng thời đẩy mạnh phối hợp nghiên cứu ứng dụng KH&CN nhằm giải quyết các thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu, phát triển đô thị và nâng cao năng suất lao động. Trọng tâm hợp tác sẽ tập trung vào các lĩnh vực công nghệ tiên tiến đang thu hút sự quan tâm của quốc tế như trí tuệ nhân tạo (AI), blockchain, công nghệ sinh học thế hệ mới, UAV và năng lượng sạch… những lĩnh vực thuộc nhóm công nghệ chiến lược đã được Chính phủ Việt Nam phê duyệt thời gian qua. Cuộc gặp giữa Thứ trưởng Bùi Thế Duy và Thứ trưởng Konstantin Mogilevsky mở ra những bước đi cụ thể, thiết thực cho quan hệ hợp tác KH&CN và giáo dục Việt – Nga. Với quyết tâm của cả hai phía, hợp tác song phương hứa hẹn ngày càng phát triển sâu rộng, đem lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước. Nguồn: Trung tâm Truyền thông KH&CN

Lên đầu trang